Menu nhanh

Thư mục

Chuyên môn Thành Viên

Cập nhật: 11h 25/8/2012 (113)
Tôi muốn gia nhập vào đây

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Truy cập từ các nước

    free counters

    Sắp xếp dữ liệu

    Menu chức năng 1

    Bài 24. Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm 1873

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: SƯU TẦM
    Người gửi: Nguyễn Quốc An (trang riêng)
    Ngày gửi: 17h:30' 12-03-2011
    Dung lượng: 5.9 MB
    Số lượt tải: 311
    Số lượt thích: 0 người
    Giáo viên thực hiện: Ngô Thị Huyền Thanh
    GIÁO ÁN DỰ THI
    Bài 24:
    CUỘC KHÁNG CHIẾN
    TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1873
    Tiết 37:
    II. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
    TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1873
    Câu hỏi kiểm tra bài cũ:
    Em hãy nêu nội dung cơ bản của Hiệp ước Nhâm Tuất
    (5-6-1862). Nhận xét.
    Nội dung:
    + Nhượng hẳn cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường và Biên Hoà) và đảo Côn Lôn.
    + Bồi thường 20 triệu quan (288 vạn lạng bạc).
    + Mở cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quãng Yên.
    + Các điều khoản nặng nề khác về kinh tế, quân sự.
    Hậu quả:
    + Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi, mất 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.
    + Thái độ nhu nhược của triều đình Huế, gây căm phẫn và bất bình trong nhân dân.
    Hiệp ước Nhâm Tuất
    (5-6-1862)
    II. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1873
    1. Kháng chiến ở Đà Nẵng và ba tỉnh miền Đông Nam Kì
    2. Kháng chiến lan rộng ở ba tỉnh miền Tây Nam Kì
    Tiết 37:
    Nhân dân miền Nam phối hợp với triều đình đắp thành luỹ, sẵn sàng kháng chiến. => Thể hiện ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước.
    a. Kháng chiến ở Đà Nẵng:
    Toán nghĩa binh Phan Gia Vĩnh phối hợp với quân triều đình chống Pháp.
    b. Kháng chiến ở Miền Đông Nam Kì:
    10/12/1861, Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Hy vọng của Pháp.
    Khởi nghĩa của Trương Định và Trương Quyền
    => Nhân dân ba tỉnh miền Đông Nam Kì chống Pháp và chống lại triều đình phong kiến hèn nhát.
    II. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1873
    1. Kháng chiến ở Đà Nẵng và ba tỉnh miền Đông Nam Kì
    Hoạt động nhóm:

    Em hãy nhận xét về thái độ và hành động của nhân dân và triều đình phong kiến?
    II. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1873
    1. Kháng chiến ở Đà Nẵng và ba tỉnh miền Đông Nam Kì
    2. Kháng chiến lan rộng ra ba tỉnh miền Tây Nam Kì
    a. Thái độ của triều đình Huế:
    => Hèn nhát, đặt lợi ích dòng họ lên trên lợi ích quốc gia.
    b. Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì:
    - Duyên cớ: Triều đình Huế ủng hộ phong trào kháng chiến ở ba tỉnh miền Đông.
    Diễn biến: (SGK)
    c. Phong trào kháng chiến của nhân dân Nam Kì:
    Trung tâm kháng chiến: Đồng Tháp Mười, Tây Ninh, Bến Tre…
    Lãnh tụ: Trương Quyền, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực…
    Dùng thơ văn để chiến đấu: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…
    Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nổ ra từ 1867 – 1875.
    Hoạt động nhóm:
    Em có suy nghĩ gì về câu nói của Nguyễn Trung Trực: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”?
    SƠ KẾT BÀI HỌC
    Trong những ngày đầu chống Pháp, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên kháng chiến và gây cho địch nhiều khó khăn. Nhưng triều đình Huế lúc đầu cùng với nhân dân chống Pháp xâm lược, về sau đã dần dần “bỏ rơi” nhân dân.
    Từ sau năm 1862, cuộc kháng chiến của nhân dân vẫn kiên trì, bền bỉ. Và đã bao hàm hai nhiệm vụ: Chống thực dân Pháp xâm lược và chống phong kiến hèn nhát đầu hàng.
    Bài tập củng cố:

    Câu: Lý do để Pháp tấn công Đà Nẵng đầu tiên là
    Có vị trí chiến lược quan trọng, gần kinh đô Huế.
    Đà Nẵng là bàn về kinh tế và quân sự.
    Có đông giáo dân theo Thiên Chúa Giáo.
    Cả a, b và c.
    Câu: Nội dung nào thuộc điều ước Nhâm Tuất (1862)?
    Cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp. Mở ba hải cảng cho Pháp và Tây ban Nha tự do thông thương.
    Cắt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cho Pháp. Mở ba hải cảng cho Pháp và Tây ban Nha tự do thông thương.
    Bồi thường chiến phí cho Pháp.
    Cả a và c.
    Cả b và c.
    Bài tập củng cố:
    Câu: Ai được nhân dân tôn là “Bình Tây Đại nguyên soái”?
    a. Trương Định
    b. Nguyễn Hữu Huân
    c. Trương Quyền
    d. Nguyễn Trung Trực
    Câu: Thủ lĩnh nghĩa quân nào đã chiến đấu cả Đông và Tây Nam Kỳ?
    Trương Định, Nguyễn Trung Trực.
    Trương Định, Trương Quyền, Nguyễn Trung Trực.
    Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực.
    Trương Định, Trương Quyền, Thủ Khoa Huân.
    Câu: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”. Là câu nói của ai?
    a. Trương Định
    b. Nguyễn Hữu Huân
    c. Trương Quyền
    d. Nguyễn Trung Trực
    Dặn dò:
    Bài cũ:
    - Học bài cũ.
    - Trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa trang 119.

    Bài mới:
    - Âm mưu tấn công Bắc Kỳ của Pháp?
    - Cuộc chiến đấu ở thành Hà Nội. Vì sao quân triều đình ở Hà Nội đông mà vẫn không thắng được giặc?
    - Nội dung của Hiệp ước Giáp Tuất (1874). Vì sao triều đình Huế lại ký Hiệp ước này?
    Bài học kết thúc.
    Chân thành cảm ơn quý thầy cô và các em!

    Hiệp ước Nhâm Tuất (5-6-1862)
    Liên quân Pháp – Tây Ban Nha tiến vào bờ biển Đà Nẵng
    Quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định (17/2/1859)
    Lược đồ Liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh chiếm Đà Nẵng
    Hoả hồng Nhật Tảo oanh thiên địa. Kiếm bạc Kiên Giang khốc quỷ thần.
    (Huỳnh Mẫn Đạt)
    Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Ét-pê-răng (Hy vọng)
    của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (10/12/1861)
    Em hãy nhận xét về bức ảnh này?
    Cuộc khởi nghĩa của Trương Định có nét gì đặc sắc?
    Mang đậm tính độc lập của nhân dân, không có sự ủng hộ của triều đình Huế.
    Toán nghĩa binh phối hợp với quân triều đình chống Pháp.
    Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy chiếc tàu Ét-pê-răng
    (Hi vọng) của Pháp đậu trên sông Vàm Cỏ Đông (10/12/1861).
    Khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo.
    Lược đồ Cuộc kháng chiến ở Đà Nẵng và miền Đông Nam Kì (1858 – 1873)
    Tự Đức (1848 - 1883)

    Vạn niên là vạn niên nào
    Thành xây xương lính, hào đào máu dân.
    (Ca dao)
    ...Cơm thì nỏ (chẳng) có
    Rau cháo cũng không
    Đất trắng xoá ngoài đồng
    Nhà giàu niêm kín cổng
    Còn một bộ xương sống
    Vơ vất đi ăn mày
    Ngồi xó chợ, lùm cây
    Quạ kêu vang bốn phía
    Xác đầy nghĩa địa
    Thây thối bên cầu
    Trời ảm đạm u sầu
    Cảnh hoang tàn đói rét
    Dân nghèo cùng kiệt...”
    (Vè cái thời Tự Đức)
    GIA ĐỊNH
    ĐỊNH TƯỜNG
    BIÊN HOÀ
    AN GIANG
    VĨNH LONG
    HÀ TIÊN
    Bản đồ Hành chính Việt Nam
    Lược đồ kháng chiến chống Pháp ở Nam Kỳ
    20/6/1867 Pháp dàn trận trước thành Vĩnh Long.
    Từ ngày 20 đến ngày 24/6/1867, quân Pháp chiếm các tỉnh miền Tây: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên không tốn một viên đạn
    Kháng chiến ở Nam Kỳ
    Căn cứ Tây Ninh
    Lãnh đạo Trương Quyền
    Căn cứ Đồng Tháp Mười
    Lãnh đạo Võ Duy Dương
    Vùng Tân An, Mỹ Tho
    Lãnh đạo Nguyễn Hữu Huân
    Vùng Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh - Lãnh đạo Phan Tôn, Phan Liêm
    Căn cứ U Minh - Lãnh đạo
    Đỗ Thừa Long, Đỗ Thừa Tự
    Vùng Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc
    Lãnh đạo Nguyễn Trung Trực
    Em có nhận xét gì về phong trào kháng chiến ở sáu tỉnh Nam Kì?
    Chạy Tây

    Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
    Một bàn cờ thế phút sa tay.
    Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
    Mất ổ đàn chim dáo dác bay.
    Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước,
    Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
    Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng
    Nỡ để dân đen mắc nạn này?
    Nguyễn Đình Chiểu
    Nguyễn Đình Chiểu
    “… Việc cuốc, việc bừa, việc cày, việc cấp, tay vốn quen làm;
    Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
    … Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan.
    Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
    … Hoả mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia. Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
    ... Đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không. Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
    Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.”
    Trích “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”
    “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.
    Nguyễn Trung Trực
     
    Gửi ý kiến