Menu nhanh

Thư mục

Chuyên môn Thành Viên

Cập nhật: 11h 25/8/2012 (113)
Tôi muốn gia nhập vào đây

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Truy cập từ các nước

    free counters

    Sắp xếp dữ liệu

    Menu chức năng 1

    Bài 9. Nước Đại Cồ Việt thời Đinh - Tiền Lê

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trịnh Thị Mai Phượng
    Ngày gửi: 16h:17' 24-02-2009
    Dung lượng: 2.0 MB
    Số lượt tải: 144
    Số lượt thích: 0 người
    Bài 9
    Nước Đại Cồ Việt thời Đinh, tiền Lê
    (tt)
    (968-1005)
    II. Sự phát triển kinh tế và văn hóa
    Bước đầu xây dựng nền kinh tế tự chủ:

    Ruộng đất thuộc sở hữu của ……………………..
    Nhân dân chia ruộng để ……………………………..,
    nộp thuế, đi lính và ………………………… cho vua
    Thế nào là lễ tịch điền?
    Thời xưa, vua ………………………………………là vị vua khởi xướng việc cầm cày xuống ruộng trong lễ hạ điền đầu năm.

    Từ đó, lễ được coi như Quốc lễ bởi ý nghĩa nhân văn và tinh thần khuyến khích sản xuất nông nghiệp.

    “Một lần vua ……………………… hơn ngàn lần vua xuống chiếu khuyến dụ,
    một lần vua ………………….. hơn ngàn lần vua hô hào cổ vũ”.

    Thời xưa, vua Lê Đại Hành là vị vua khởi xướng việc cầm cày xuống ruộng trong lễ hạ điền đầu năm. Từ đó, lễ được coi như Quốc lễ bởi ý nghĩa nhân văn và tinh thần khuyến khích sản xuất nông nghiệp. “Một lần vua cầm cày hơn ngàn lần vua xuống chiếu khuyến dụ, một lần vua gần dân hơn ngàn lần vua hô hào cổ vũ”.

    Con đường dẫn vào lễ hội tịch điền Đọi Sơn

    Nhiều khách thập phương phải băng đồng để vào xem hội vì con đường nhỏ dẫn đến ruộng cày tịch điền đã không còn chỗ bởi đoàn rước cờ và kiệu

    Trong tiếng trống Đọi Tam giòn rã, các nghi thức cổ xưa của lễ hội cày tịch điền dần hiện ra

    Trâu, chủ trâu và thợ cày xuất hiện trong những bộ cánh mới trước mắt người nông dân Đọi Sơn (Hà Nam)

    Dắt trâu ra ruộng


    Chủ nào lắp vai cày cho trâu nấy

    Khi lắp cày xong, trâu được mang ra cày thử cùng các thợ cày giỏi


    Nông dân ngày nay đã bớt vất vả khi chuyển sang cày máy. Nhưng theo kinh nghiệm của thợ cày, những thửa ruộng nhỏ với bờ khúc khủy thì cày trâu vẫn là lựa chọn tốt nhất

    Nhiều nghé không chịu rời trâu mẹ nửa bước nên BTC đành cho 2 mẹ con cùng đi cày

    Tái hiện hình ảnh nhà vua trong lễ tịch điền

    Con trâu có bức tranh trên mình được đánh giá là đẹp nhất sẽ dùng để nhà vua đi cày trong lễ tịch điền

    Vua là người xuống ruộng cày 3 sá ruộng đầu tiên

    Nhà vua với áo bào, tay cày, tay roi xua trâu cày miết

    Tiếp đến là bô lão, các bô lão khá vất trong sá cày nhưng rất phấn khởi


    Trâu cày đến đâu hạt giống được gieo đến đó
    Những chi tiết nào cho thấy nhà Lê rất coi trọng phát triển
    Nông nghiệp?





    Tình hình phát triển:
    Thủ công nghiệp?

    Tình hình phát triển:
    Thương nghiệp?
    Đồng tiền chính triều đầu tiên của VN, đồng Thái Bình Hưng Bảo của Đinh Tiên Hòang đúc năm 970-980

    Đồng Tiền thứ 2 đồng Thiên Phúc Trấn Bảo của Lê Đại Hành đúc khỏang 986- 1009

    blog.360.yahoo.com/blog-Kw82jxwzd6dwviHG3r4R7...
    Vẽ sơ đồ bộ máy nhà nước thời Đinh_tiền Lê
    Xã Hội
    Nhận xét đời sống xã hội của người dân dưới thời Đinh_ tiền Lê:

    Tình hình giáo dục thời Đinh_ tiền Lê
    Hình thức học:

    Lớp học tổ chức ở:
    Phật Giáo
    Lịch Sử Việt Nam, tập 1, viết về Phật giáo thời nhà Đinh:
    "Trong buổi đầu thời kỳ độc lập, Phật giáo là tôn giáo chiếm ưu thế trong xã hội. Trong nước nhiều chùa tháp được xây dựng. Riêng ở Hoa Lư, năm 973, Nam Việt vương Đinh Liễn là con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng, cho dựng 100 cột đá khắc kinh Phật (gọi là kinh tràng).
    Các nhà sư là tầng lớp có học thức, có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội. Ngoài văn học dân gian, lực lượng sáng tác văn học lúc đó chủ yếu cũng là các nhà sư. Những tác phẩm văn học thành văn của giai đoạn này còn lại đến nay là một số bài thơ chữ Hán của các nhà sư như Đỗ Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, v.v…
    Sau nhà Đinh là nhà Tiền Lê, các tăng sĩ vẫn được trọng dụng. Vua Lê Đại Hành đã triệu thỉnh Khuông Việt Thái sư làm cố vấn và thiền sư Pháp Thuận lo việc ngoại giao; đồng thời triều đình cũng cho thiết lập các tự viện, và năm 1008 vua sai sứ là các ông Minh Xưởng, Hoàng Thành Nhã qua Trung Hoa thỉnh Đại tạng kinh. Đây là lần đầu tiên nước ta sai sứ đi thỉnh kinh.

    Các vị quốc sư, thiền sư đã đóng góp không nhỏ cho công trình dựng nước và giữ nước, các ngài đã khai hóa nền văn học quốc gia, đã giáo hóa toàn dân. Vốn sẵn có tinh thần yêu nước cao độ, nhân dân ta lại được thấm nhuần giáo lý Giác Ngộ Giải Thoát của Đạo Phật và đã lấy đó làm chất men cho cuộc nổi dậy, chống lại sự thống trị của người phương Bắc; giành lấy quyền độc lập tự chủ cho quốc gia kéo dài hơn 5 thế kỷ, kể từ thời nhà Đinh trở về sau (968 – 1504).

     
    Gửi ý kiến